Monday, 22 June 2015

Đề Hà Hiệu Úy "Bạch vân tư thân" 題何校尉白雲思親











Đình vi (1) nhất biệt tuế hoa thâm
Ái mộ nhân giai cộng thử tâm
Khách lí khán vân (2) tình dị thiết
Công dư phi quyển ý nan câm
Gia sơn thục bất hoài tang tử (3)
Trung hiếu hà tằng hữu cổ câm (kim)
Trì thử tặng quân hoàn tự cảm
Thi thành ngã diệc lệ triêm khâm

Chú thích

(1) Đình vi : Sân và nhà trong. Chỉ nhà cha mẹ, cũng dùng để gọi cha mẹ.
(2) Khán vân : Địch Nhân Kiệt chỉ mây trắng và nói: "Nhà cha mẹ ta ở dưới kia kìa."
(3) Tang tử : Quê cha đất tổ. Chỗ làng sinh ra mình gọi là tử lí hay tang tử .

Dịch nghĩa:
Đề thơ "Trông mây trắng nhớ cha mẹ" của quan Hiệu Úy họ Hà

Từ khi cách biệt cha mẹ, đã nhiều năm qua
Tình yêu mến, người ta đều cùng một tấm lòng đó
Nơi đất khách trông mây, tình dễ tha thiết
Xong việc công, mở sách, cảm xúc khó cầm
Tình quê hương, ai chẳng nhớ cây dâu cây tử
Lòng trung hiếu có bao giờ phân biệt xưa và nay
Cầm bài này tặng ông, lại tự thấy cảm động
Thơ làm xong, ta cũng nước mắt ướt vạt áo

Dịch thơ:
Đề thơ "Trông mây trắng nhớ cha mẹ" của
quan Hiệu Úy họ Hà


Cách xa cha mẹ những năm ròng
Thương mến, người ta một tấm lòng
Đất khách trông mây, tình thắm thiết
Việc xong giở sách, cảm khôn cầm
Xưa nay đều một niềm trung hiếu
Sông núi cùng là nỗi nhớ mong
Cầm tặng bài thơ nghe tức tưởi
Làm xong nước mắt cũng tuôn dòng


(Đặng Thế Kiệt dịch) 




No comments:

Post a Comment