Friday, 26 June 2015

053-3 Mạn hứng (kì tam) 漫興 (其三)




鹿






Ô thố thông thông vãn bất lưu
Hồi đầu vạn sự tổng nghi hưu
Không hoa huyễn nhãn miên tiêu lộc (1)
Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngưu (2)
Ải ốc thê thân kham độ lão
Thương sinh tại niệm độc tiên ưu (3)
Bành thương (4) tang cốc (5) đô hưu luận
Cổ vãng kim lai hạc (6) nhất khưu

Chú thích
 
(1) Tiêu lộc 鹿: Do điển Tiêu lộc mộng 鹿, xưa có người tiều phu nước Trịnh bắt được con hươu, đem giấu một nơi, che dưới lá chuối. Sau tìm lại không được, cho rằng mình đã chiêm bao.
(2) Suyễn nguyệt ngưu : Ở miền Giang Hoài đất Ngô có loài trâu rất sợ nắng, thấy trăng lên tưởng là mặt trời, sợ thở hổn hển.
(3) Tiên ưu : Phạm Trọng Yêm (989-1052): Nhiên tắc hà thời nhi lạc da? Kì tất viết: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" : (Nhạc Dương Lâu kí ) Mà lúc nào mới được vui? Tất đáp rằng: "Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ."
(4) Bành thương : Bành là sống lâu, thương là chết non. Trang Tử : Mạc thọ ư thương tử, nhi Bành Tổ vi yểu
, (Tề vật luận ) Không ai thọ hơn đứa trẻ chết yểu, mà ông Bành Tổ là chết non.
(5) Tang cốc : Theo sách Trang Tử (chương Biền mẫu ), Tang và Cốc cùng chăn cừu. Tang ham đọc sách, Cốc mê cờ bạc. Cả hai đều đánh mất cừu như nhau.
(6) hạc : Một giống thú giống như con hồ (cáo) đầu mũi nhọn, tính hay ngủ, ngày ngủ đêm ra ăn các loài sâu, lông loang lổ, rậm mà mượt ấm, dùng may áo ấm. Con hạc cùng ở một hang với con hoan , ra ngoài đi theo nhau.

Dịch nghĩa:
Mạn hứng (bài 3)

Vầng ô bóng thỏ (mặt trời và mặt trăng, thời gian) vùn vụt đi, không kéo lại được
Quay đầu nhìn lại, muôn việc đều nên thôi
Đốm hoa làm lóa mắt như giấc mơ giấu hươu dưới lá chuối
Cõi tục ghê lòng tựa như trâu thở phì phò khi thấy trăng lên
Nương thân dưới mái nhà lụp xụp có thể qua tuổi già
Lòng luôn nghĩ đến dân đen, một mình lo trước thiên hạ
Sống lâu hay chết yểu, thằng ở hay con đòi đều không nên bàn đến làm gì
Xưa qua nay lại, như con hạc cùng ở trong cái gò

Dịch thơ:
Mạn hứng (bài 3)

Vầng ô bóng thỏ níu sao mà,
Nhìn lại muôn điều đáng bỏ qua.
Lóa mắt chiêm bao hươu lá giấu,
Ghê lòng trâu suyễn ánh trăng lòa.
Mái nghèo nương náu thong dong lão,
Dân khổ lo toan canh cánh ta.
Yểu thọ, dở hay thôi cãi cọ,
Xưa nay chồn cáo một gò qua.


(Đặng Thế Kiệt dịch)


053-1 Mạn hứng (kì nhất) 漫興 (其一)









滿滿

Thế lộ sa đà tuyết thượng điên
Nhất sinh lạc thác cánh kham liên
Nhi tôn chủng phúc (1) lưu tâm địa
Ngư điểu vong tình lạc tính thiên
Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ
Phần hương đối án các mai biên
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng
Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

Chú thích
(1) chủng phúc : vun trồng phúc lành. Cũng như tích phúc .
 

Dịch nghĩa:
Mạn hứng (bài 1)

Đường đời lần lữa vẫn chưa nên việc, tuyết đã trắng cả đầu
Một đời luân lạc càng đáng thương
Vun trồng phúc đức cho con cháu, để lại "đất cõi lòng" (tâm địa)
Như chim cá không nghĩ ngợi gì cả, vui với "tính trời" (tính thiên)
Quét tuyết nấu trà dưới mái hiên cạnh khóm trúc
Đốt hương ngồi trước án trên gác bên cây mai
Núi cũ đêm qua vấn vương giấc mộng đẹp
Trăng chiếu đầy sông Bình Than, rượu đầy thuyền

Dịch thơ:
Mạn hứng (bài 1)

Tuyết trắng đỉnh đầu vẫn chửa nên,
Một đời luân lạc cảm niềm riêng.
Đất lành vun xới truyền con cháu,
Tánh gốc thong dong vui cá chim.
Ðọc sách hương trầm mai cạnh gác,
Nấu trà nước tuyết trúc bên hiên.
Ðêm qua núi cũ triền miên mộng,
Trăng ngập đầy sông, rượu ngập thuyền.


(Đặng Thế Kiệt dịch)




Thursday, 25 June 2015

052 Thu nhật ngẫu thành 秋日偶成











Tiêu tiêu trụy diệp hưởng đình cao
Bệnh cốt tài tô khí chuyển hào
Thiên địa tư văn tòng cổ trọng
Hồ san thanh hứng nhập thu cao
Kính trung bạch phát giai nhân lão
Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao
Miễn tưởng cố viên tam kính cúc
Mộng hồn dạ dạ thướng quy đao

Dịch nghĩa:
Ngày thu tình cờ viết thành

Lao xao lá rụng vang ngoài sân
Bệnh vừa mới lành, chí khí trở nên phấn chấn
Nền tư văn trong trời đất, từ xưa vốn trọng
Hứng thanh nhã đối với núi và hồ, vào thu càng cao
Tóc bạc trong gương cùng với người già đi
Danh hão ngoài thân, các người cứ mặc tình nhọc công theo đuổi
Từ nơi xa tưởng nhớ ba luống cúc nơi vườn cũ
Hồn mộng đêm đêm lên chiếc thuyền nhỏ trở về

Dịch thơ:
Ngày thu tình cờ viết thành

Lao xao tiếng lá rụng bên sân,
Bệnh mới hết xong, sảng khoái thần.
Trời đất tư văn thời cổ trọng,
Núi sông nhã hứng buổi thu thâm.
Trong gương tóc trắng già theo tuổi,
Ngoài vỏ danh hờ nhọc lấy thân.
Vườn cũ nhớ thương ba luống cúc,
Đêm đêm thuyền mộng ghé về thăm.


(Đặng Thế Kiệt dịch)

Wednesday, 24 June 2015

048-1 Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (kì nhất) 海口夜泊有感 (其一)











Hồ hải niên lai hứng vị lan
Kiền khôn đáo xứ giác tâm khoan
Nhãn biên xuân sắc huân nhân túy
Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn
Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch
Quân thân tại niệm thốn tâm đan
Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu
Doanh đắc phù danh lạc thế gian

Dịch nghĩa:
Đêm đậu thuyền ở cửa biển cảm hứng (bài một)

Mấy năm nay cái hứng hồ hải vẫn chưa hết
Trong trời đất đến đâu cũng thấy lòng thung dung thư thái
Bên mắt, sắc xuân hâm ấm người ngây ngất
Trên gối, tiếng thủy triều đi vào giấc mộng trong đêm lạnh
Năm tháng vô tình, hai mái tóc bạc
Quân thân ghi dạ, một tấc lòng son
Sự nghiệp một đời thật đáng buồn cười
Còn được chút phù danh rớt giữa thế gian

Dịch thơ:
Đêm đậu thuyền ở cửa biển cảm hứng (bài một)

Hồ hải bao năm hứng vẫn còn
Đất trời đâu cũng cứ thong dong
Sắc xuân đưa mắt say lòng khách
Sóng biển gối đầu đắm mộng hồn
Năm tháng vô tình, vầng tóc bạc
Nước nhà ghi dạ, tấm lòng son
Người đời sự nghiệp buồn cười nhỉ
Một chút phù danh rớt thế gian


(Đặng Thế Kiệt dịch)

Tuesday, 23 June 2015

042-1 Thu dạ khách cảm (kì nhất) 秋夜客感 (其一)











Lữ xá tiêu tiêu tịch tác môn
Vi ngâm tụ thủ quá hoàng hôn
Thu phong lạc diệp ki tình tứ
Dạ vũ thanh đăng khách mộng hồn
Loạn hậu phùng nhân phi túc tích
Sầu trung tống mục ngụ càn khôn
Ðáo đầu vạn sự giai hư huyễn
Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn (1)

Chú thích

(1) Sở tồn : Sở vương dữ Phàm quân tọa. Sở tả hữu viết: Phàm vong giả tam. Phàm quân viết: Phàm chi vong giả bất túc dĩ táng ngô tồn. Sở chi tồn bất túc dĩ tồn tồn. Do thử quan chi tắc vị thủy vong nhi Sở vị thủy tồn dã . : . : . . (Trang Tử , Ðiền Tử Phương ) Vua Sở ngồi nói chuyện với vua Phàm. Kẻ tả hữu của vua Sở bảo rằng nước Phàm có ba lần mất. Vua Phàm nói với vua Sở: Nước Phàm mất không ảnh hưởng gì đến sự tồn tại của tôi thì nước Sở còn cũng không đủ để bảo rằng vua Sở còn tồn tại hay không. Xét như vậy thì nước Phàm vị tất đã mất mà nước Sở vị tất đã còn. (Trang Tử Nam Hoa Kinh, Nguyễn Hiến Lê dịch, trang 391).

Dịch nghĩa:
Ðêm thu ở đất khách cảm hoài

Nơi quán trọ đìu hiu lấy chiếu làm cửa
Khoanh tay ung dung, ngâm khe khẽ, trời gần tối
Gió thu lá rụng, tình lữ thứ
Đêm mưa ngọn đèn leo lét, mang mang hồn mộng nơi đất khách
Sau cơn li loạn, người gặp không ai là kẻ quen biết cũ
Trong mối sầu, đưa mắt gửi ý tứ vào trời đất
Rốt cục muôn việc đều là hư ảo
Thôi đừng bàn luận làm chi chuyện nước Phàm mất với nước Sở còn

Dịch thơ:
Ðêm thu ở đất khách cảm hoài

Quán trọ đìu hiu cửa chiếu giăng,
Khoanh tay ngâm khẽ quá hoàng hôn.
Gió thu lá rụng — tình cô lữ,
Mưa tối đèn xanh — khách mộng hồn.
Sau loạn, người trông đều mặt lạ,
Trong sầu, ý gửi suốt càn khôn.
Rốt cùng muôn việc đều hư ảo,
Thôi luận bàn chi nước mất còn.


(Đặng Thế Kiệt dịch)

Monday, 22 June 2015

030-2 Chu trung ngẫu thành (kì nhị) 舟中偶成 (其二)











Hải giác thiên nhai tứ ý ngao
Kiền khôn đáo xứ phóng ngâm hào
Ngư ca tam xướng yên hồ khoát
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao
Thanh dạ bằng hư quan vũ trụ
Thu phong thừa hứng giá kình ngao
Du nhiên vạn sự vong tình hậu
Diệu lí chân kham phó trọc lao

Dịch nghĩa:
Trong thuyền ngẫu nhiên làm thành

Góc biển chân trời mặc ý rong chơi
Trong cõi trời đất đến đâu cũng phóng bút làm thơ
Ca chài mấy khúc, khói hồ trải rộng mênh mông
Sáo mục đồng trổi lên một tiếng, trăng trời lên cao vút
Đêm thanh ngự lên hư không mà ngắm xem vũ trụ
Gió thu thừa hứng cỡi kình ngao
Muôn việc đời dằng dặc sau khi quên hết
Thấy lẽ huyền diệu thật đáng phó cho chén rượu đục

Dịch thơ:
Trong thuyền ngẫu nhiên làm thành

Góc biển chân trời mặc tự do
Càn khôn đâu chẳng viết thành thơ
Ca chài vang vọng, khói lan rộng
Sáo mục lên cao, trăng vút mơ
Đêm lặng hư không xem vũ trụ
Gió thu hứng khởi cỡi kình ngư
Việc đời dằng dặc quên đâu hết
Diệu lí tay nâng rượu một vò


(Đặng Thế Kiệt dịch)




Đề Hà Hiệu Úy "Bạch vân tư thân" 題何校尉白雲思親











Đình vi (1) nhất biệt tuế hoa thâm
Ái mộ nhân giai cộng thử tâm
Khách lí khán vân (2) tình dị thiết
Công dư phi quyển ý nan câm
Gia sơn thục bất hoài tang tử (3)
Trung hiếu hà tằng hữu cổ câm (kim)
Trì thử tặng quân hoàn tự cảm
Thi thành ngã diệc lệ triêm khâm

Chú thích

(1) Đình vi : Sân và nhà trong. Chỉ nhà cha mẹ, cũng dùng để gọi cha mẹ.
(2) Khán vân : Địch Nhân Kiệt chỉ mây trắng và nói: "Nhà cha mẹ ta ở dưới kia kìa."
(3) Tang tử : Quê cha đất tổ. Chỗ làng sinh ra mình gọi là tử lí hay tang tử .

Dịch nghĩa:
Đề thơ "Trông mây trắng nhớ cha mẹ" của quan Hiệu Úy họ Hà

Từ khi cách biệt cha mẹ, đã nhiều năm qua
Tình yêu mến, người ta đều cùng một tấm lòng đó
Nơi đất khách trông mây, tình dễ tha thiết
Xong việc công, mở sách, cảm xúc khó cầm
Tình quê hương, ai chẳng nhớ cây dâu cây tử
Lòng trung hiếu có bao giờ phân biệt xưa và nay
Cầm bài này tặng ông, lại tự thấy cảm động
Thơ làm xong, ta cũng nước mắt ướt vạt áo

Dịch thơ:
Đề thơ "Trông mây trắng nhớ cha mẹ" của
quan Hiệu Úy họ Hà


Cách xa cha mẹ những năm ròng
Thương mến, người ta một tấm lòng
Đất khách trông mây, tình thắm thiết
Việc xong giở sách, cảm khôn cầm
Xưa nay đều một niềm trung hiếu
Sông núi cùng là nỗi nhớ mong
Cầm tặng bài thơ nghe tức tưởi
Làm xong nước mắt cũng tuôn dòng


(Đặng Thế Kiệt dịch) 




Sunday, 21 June 2015

016 Kí hữu 寄友











Loạn hậu thân bằng lạc diệp không
Thiên biên thư tín đoạn thu hồng
Cố viên quy mộng tam canh vũ
Lữ xá ngâm hoài tứ bích cung
Đỗ Lão hà tằng vong Vị Bắc (1)
Quản Ninh do tự khách Liêu Đông (2)
Thành trung cố cựu như tương vấn
Vị đạo thiên nhai nhậm chuyển bồng

Chú thích
(1) Đỗ Lão : Chỉ Đỗ Phủ. Đỗ Phủ đã từng lánh nạn tại Hàm Dương, ở phía Bắc sông Vị .
(2) Quản Ninh : Người đời Ngụy. Cuối đời Hán, ông tránh loạn Hoàng Cân sang Liêu Đông .

Dịch nghĩa:
Gửi bạn

Sau thời loạn, bạn bè thân thích như lá rụng sạch
Ở bên trời thư tín vắng bặt như cánh chim hồng mùa thu
Giấc mộng về quê cũ, mưa ba canh
Tấm lòng thơ nơi quán trọ, dế kêu bốn vách
Đổ Phủ có bao giờ quên Vị Bắc
Quản Ninh còn làm khách ở Liêu Đông
Bạn cũ trong thành nếu có hỏi thăm
Xin nói giùm rằng (tôi nay) như cỏ bồng xoay chuyển ở phương trời

Dịch thơ:
Gửi bạn

Sau loạn thân bằng lá rụng trơn
Bên trời tin tức bặt chim hồng
Đêm mưa quê cũ mơ canh cánh
Quán trọ lòng thơ dế nỉ non
Đỗ Phủ bao giờ quên đất tổ
Quản Ninh còn mãi nhớ quê hương
Trong thành bạn cũ ai thăm hỏi
Xin nói ... phương xa ngọn cỏ bồng


(Đặng Thế Kiệt dịch)


Hí đề 戲題











Nhàn lai vô sự bất thanh nga
Trần ngoại phong lưu tự nhất gia
Khuê bích thiên trùng khai điệp nghiễn
Pha lê vạn khoảnh dạng tình ba
Quản huyền tào tạp lâm biên điểu
La ỷ phương phân ổ lí hoa
Nhãn để nhất thì thi liệu phú
Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa

Dịch nghĩa:
Ðề vui

Khi nhàn rỗi, không việc gì mà không ngâm nga thanh nhã
Ta tự là bậc phong lưu ngoài cõi tục
Núi non trùng điệp mở ra như ngọc khuê ngọc bích
Nước trong sóng sánh như muôn khoảnh pha lê
Chim bên rừng ríu rít như đàn sáo
Trong khóm rậm rạp, hoa như lụa là thơm ngát
Nơi đáy mắt nhà thơ, một khi đã giàu thi liệu
Thì nhà thơ với người đời, ai hơn ai?

Dịch thơ:
Ðề vui

Thanh nhàn chi cũng thể ngâm nga
Thoát tục phong lưu ấy chính ta
Trùng điệp núi non phơi ngọc biếc
Lung linh sóng nước chiếu trời xa
Bên rừng ríu rít chim đàn sáo
Trong khóm thơm tho hoa lụa là
Đáy mắt chất thơ giàu mỗi lúc
Người đời hơn được khách thơ a?


(Đặng Thế Kiệt dịch)