Wednesday, 11 March 2015

029 Kí hữu 寄友











Bán sinh thế lộ thán truân chiên
Vạn sự duy ưng phó lão thiên
Thốn thiệt đãn tồn (1) không tự tín
Nhất hàn như cố (2) diệc kham liên
Quang âm thúc hốt thời nan tái
Khách xá thê lương dạ tự niên
Thập tải độc thư bần đáo cốt
Bàn vô mục túc (3) tọa vô chiên

Chú thích

(1) Thốn thiệt đãn tồn: Tấc lưỡi hãy còn. Trương Nghi , người nước Ngụy thời Chiến Quốc , sang du thuyết nước Sở , tướng quốc nước Sở mất viên ngọc bích, ngờ Trương Nghi lấy, bắt Nghi đánh mấy trăm roi. Nghi trở về, há miệng ra hỏi vợ: "Lưỡi ta còn không?". Vợ nói lưỡi hãy còn. Nghi bảo: "Thế là đủ rồi." Ý nói còn lưỡi thì còn nói được, còn có người nghe, không sợ nghèo hèn mãi.
(2) Nhất hàn như cố: Vẫn cái cảnh nghèo như cũ. Phạm Thư , người nước Ngụy thời Chiến quốc, tên tự là Thúc, theo Tu Giả đi sứ nước Tề . Vua Tề nghe nói Thư có tài biện luận, sai người đem vàng biếu. Giả nghi Thư tiết lộ việc cho nước Tề, về nói với tướng quốc nước Ngụy. Thư bị đánh đập tàn nhẫn, giả chết, bỏ trốn sang Tần , được cho làm thừa tướng. Sau Tu Giả đi sứ Tần, Thư mặc áo rách yết kiến. Giả không biết Thư làm thừa tướng nước Tần, nói: Phạm thúc nhất hàn như thử (Phạm thúc vẫn cái cảnh nghèo khổ như vậy sao?)
(3) Mục túc: Một loài cây nằm ngang trên mặt đất, dùng làm rau ăn được.

(Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nhà xuất bản Văn Học, Việt Nam, 1999)

Dịch nghĩa:
Gửi bạn

Nửa đời người, than cho đường đời nhiều gian nan vất vả
Muôn việc chỉ nên phó cho trời già
Tấc lưỡi hãy còn, luống những tự tin
Thân nghèo như cũ, cũng đáng xót thương
Ngày tháng qua vùn vụt, thời gian khó trở lại
Quán khách lạnh lẽo, đêm dài tựa năm
Mười năm đọc sách, nghèo tận xương
Mâm cơm không rau mục túc, chỗ ngồi không đệm

Dịch thơ:
Gửi bạn

Truân chiên từng ngán bước đường đời,
Muôn việc đành thôi phó mặc trời.
Tấc lưỡi còn đây thường tự tín,
Thân nghèo mãi thế đáng thương thôi.
Lạnh lùng khách xá đêm dài mấy,
Vùn vụt quang âm bóng xế rồi.
Đọc sách mười năm nghèo đến tủy,
Ăn không rau đậu, chẳng chiên ngồi.


(Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch)

043 Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thủy đồng phú 秋夜與黃江阮若水同賦



滿







Hồng diệp đôi đình trúc ủng môn
Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn
Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp
Tứ bích hàn cung triệt dạ huyên
Thiên lại (1) ngữ thu kinh thảo mộc
Ngọc Thằng (3) đê Hán (3) chuyển càn khôn
Cao trai độc tọa hồn vô mị
Hảo bả tân thi hướng chí luân

Chú thích

(1) Thiên lại: Phàm những chỗ hư không phát ra tiếng đều gọi là "lại". Như "thiên lại" tiếng trời, "địa lại" tiếng đất.
(2) Ngọc Thằng: Tên sao, ở phía bắc sao Ngọc Hoành . Lúc đêm khuya, sao này xuống thấp gần Ngân Hà.
(3) Hán: Còn gọi là Thiên Hà , tức Ngân Hà .

Dịch nghĩa:
Đêm thu cùng Hoàng Giang
Nguyễn Nhược Thủy làm thơ


Lá đỏ chất đầy sân, trúc ôm cửa
Đầy thềm trăng sáng lúc trời chạng vạng
Từ chín từng mây, những hạt móc trong thấm ướt ba canh
Bốn vách dế lạnh kêu suốt đêm
Tiếng nhạc trời nói cho biết mùa thu đến làm kinh động cỏ cây
Sao Ngọc Thằng xuống thấp gần sông Ngân Hà, chuyển trời đất
Ngồi một mình trên phòng cao, không ngủ được
Hãy đem bài thơ mới nói đến chí mình

Dịch thơ:
Đêm thu cùng Hoàng Giang
Nguyễn Nhược Thủy làm thơ


Lá đỏ đầy sân, cửa trúc ôm
Đầy thềm trăng sáng, quá hoàng hôn
Chín từng thấm ướt sương đêm vắng
Bốn vách kêu ran dế lạnh buồn
Thu khí nhạc trời kinh thảo mộc
Ngân Hà sao ngọc chuyển càn khôn
Phòng cao một bóng ngồi không ngủ
Chí lớn theo dòng thơ mới tuôn


(Đặng Thế Kiệt dịch) 


Tuesday, 10 March 2015

036 Khất nhân họa Côn Sơn đồ 乞人畫崑山圖











Bán sinh khâu hác phế đăng lâm
Loạn hậu gia hương phí mộng tầm
Thạch bạn tùng phong cô thắng thưởng
Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm
Yên hà lãnh lạc trường kham đoạn
Viên hạc tiêu điều ý phỉ câm
Bằng trượng nhân gian cao họa thủ
Bút đoan tả xuất nhất ban tâm

Dịch nghĩa:
Nhờ người vẽ tranh Côn Sơn

Nửa đời phải bỏ cái thú đi ngoạn thưởng gò núi hang hốc khe suối
Sau loạn, uổng công tìm quê hương trong giấc chiêm bao
Cạnh ghềnh đá, gió thông không ai thưởng thức
Bên khe nước, bóng mai đành phụ thú ngâm nga
Khói ráng chiều quạnh quẽ, buồn muốn đứt ruột
Vượn hạc tiều điều, cảm xúc khó cầm
Muốn nhờ tay vẽ giỏi trên đời
Lấy bút tả hết nỗi lòng ta

Dịch thơ:
Nhờ người vẽ tranh Côn Sơn

Nửa đời bỏ thú ngoạn sơn khê
Sau loạn làng xưa mộng não nề
Bờ đá thông reo ai thưởng thức
Bên khe mai nở mấy say mê
Khói mây quạnh quẽ tim quằn quại
Vượn hạc tiêu điều bụng tái tê
Trần thế ai người tay họa sĩ
Vì ta cực tả nỗi lòng quê


(Đặng Thế Kiệt dịch)








031 Ðề kiếm 題劍











Lam Sơn (1) tự tích ngọa thần long (2)
Thế sự huyền tri tại chưởng trung
Ðại nhiệm hữu quy thiên khải thánh (3)
Xương kì nhất ngộ hổ sinh phong (4)
Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ
Kim quỹ (5) chung tàng vạn thế công
Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu
Thế gian na cánh sổ anh hùng.

Chú thích

(1) Lam Sơn : Tên núi ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa), năm 1418 (Mậu Tuất), Lê Lợi khởi nghĩa tại đây.
(2) Ngọa thần long : "Ngọa long" là con rồng nằm, thường dùng để chỉ Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc lúc còn ở ẩn tại Ngọa Long Cương (huyện Nam Dương, tỉnh Hà Nam). Trong bài này, Nguyễn Trãi dùng "ngọa long thần" để chỉ Lê Lợi khi còn ở núi rừng Lam Sơn.
(3) Thiên khải thánh : Trời bảo cho thánh nhân (tức Lê Lợi) biết. Chỉ việc Lê Lợi được trời cho kiếm thần trên có chữ "Thuận Thiên" và "Lợi". Năm 1428 (Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
(4) Hổ sinh phong : Cọp sinh ra gió. Lấy ý ở quẻ Càn trong kinh Dịch : "Vân tùng long, phong tùng hổ" , (Mây đi theo rồng, gió đi theo cọp).
(5) Kim quỹ : Do chữ "Kim quỹ thạch thất" là rương làm bằng vàng, nhà xây bằng đá để cất giữ sử sách.

(chú thích theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nhà xuất bản Văn Học, Việt Nam, 1999)

Dịch nghĩa:
Đề kiếm

Từ xưa khi rồng thiêng còn nằm ở Lam Sơn
Mà việc đời huyền nhiệm đã biết rõ ở trong lòng bàn tay
Khi gánh nặng trao về một người thì trời báo cho thánh nhân biết
Khi gặp đời thịnh thì hổ sinh ra gió
Đã rửa sạch nỗi nhục ngàn năm của thù nước
Cuối cùng đã cất giữ cái công muôn thuở trong rương vàng
Từ nay việc chỉnh đốn đất trời đã xong
Trên đời có được mấy người anh hùng như thế?

Dịch thơ:
Đề kiếm

Lam Sơn ngày trước ẩn mây rồng
Huyền nhiệm trong tay đã biết thông
Trọng trách trao người, trời báo thánh
Thịnh thời gặp lúc, hổ sinh phong
Quốc thù rửa sạch muôn năm nhục
Rương quý còn lưu vạn thế công
Chỉnh đốn càn khôn nay đã trọn
Trên đời dễ có mấy anh hùng?


(Đặng Thế Kiệt dịch) 


028 Quy Côn Sơn chu trung tác 歸崑山舟中作











Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình
Quy tứ dao dao nhật tự tinh
Kỉ thác mộng hồn tầm cố lí
Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh
Binh dư cân phủ ta nan cấm
Khách lí giang sơn chỉ thử tình
Uất uất thốn hoài vô nại xử
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh

Dịch nghĩa:
Trong thuyền về Côn Sơn cảm tác

Mười năm phiêu giạt than thân bồng bèo
Lòng muốn về ngày ngày lay động như đuôi cờ
Bao lần nhờ chiêm bao đi tìm làng cũ
Luống đem nước mắt lẫn máu rửa mồ tổ tiên
Sau cơn binh lửa, thương ơi, nạn búa rìu khó ngăn
Non sông đất khách chỉ đeo đẳng mối tình này
Tấc lòng bùi ngùi chẳng biết làm sao
Nằm ở cửa sổ thuyền trăn trở gối đến sáng

(Bản dịch xuôi trong: Nguyễn Trãi, Sinh thức và Hành động, trang 172, Võ Văn Ái, Quê Mẹ xuất bản, Paris 1981)

Dịch thơ:
Trong thuyền về Côn Sơn cảm tác

Mười năm phiêu giạt bồng bèo,
Mong về phất phất cờ treo gió lùa.
Đi tìm làng cũ trong mơ,
Luống đem nước mắt rửa mồ tổ tiên.
Sau cơn binh lửa muộn phiền,
Non sông đất khách một niềm khôn nguôi.
Tấc lòng cố quốc ngùi ngùi,
Cửa thuyền trở gối sáng trời không hay.


(Đặng Thế Kiệt dịch)

Sunday, 8 March 2015

027 Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác 亂後到崑山感作


退 Sơn tại Chi Ngại xã, Trần Nguyên Đán thoái hưu xứ. Sơn hữu Thanh Hư động, hạ hữu Thấu Ngọc kiều. Trần Pháp Loa am cư, Huyền Quang diệc trác tích vu thử.
Núi này ở xã Chi Ngại, là chỗ Trần Nguyên Đán về hưu. Núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc. Sư Pháp Loa đời Trần có dựng am, sư Huyền Quang cũng trụ trì ở đó.










Nhất biệt gia sơn kháp thập niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lí tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên

Dịch nghĩa:
Sau loạn về Côn Sơn cảm tác

Từ giã quê hương vừa đúng mười năm
Nay trở về, tùng cúc một nửa đã tiêu sơ
Đã hẹn với rừng suối mà sao nỡ phụ
Trong cát bụi cúi đầu tự thương mình
Vừa qua làng, tưởng như chiêm bao
Chiến tranh chưa dứt, may được toàn thân
Bao giờ được làm nhà dưới núi mây che
Múc nước suối nấu trà, gối lên đá mà ngủ

Dịch thơ:
Sau loạn về Côn Sơn cảm tác

Xa quê nay đã đúng mười năm
Trở lại, tùng xưa nửa héo tàn
Đã hẹn suối rừng sao nỡ phụ
Cúi đầu cát bụi tự thương thân
Chiến chinh chửa dứt may còn sống
Làng cũ đi qua tưởng mộng lầm
Ước được cất nhà mây xóm núi
Nấu trà, gối đá ngủ mênh mang


(Đặng Thế Kiệt dịch)